SNAKEHEAD FISH LÀ CÁ GÌ ? CÁ LÓC BAO NHIÊU CALO VÀ ĂN CÁ LÓC CÓ TÁC

Sản phẩm Thức ăn cho cá Cảnh Thuốc cho Cá cảnh Hồ cá - Trang trí Hồ cá Bài viết

Cá Lóc cảnh (snakehead fish)

Chơi cá cảnh là cái thú đam mê của khá nhiều người. Cũng giống như những người chơi cây cảnh, chim cảnh, nhu cầu của dân chơi cá cảnh luôn thay đổi không ngừng. Hiện nay, cá lóc cảnh cũng đang được chú ý đến rất nhiều. Cá Lóc cảnh là loài cá thủy sinh tuyệt vời nếu bạn chăn sóc một cách đúng đắn.Chúng có tên Snakehead bởi vì hình dạng dẹp và vảy trên đầu tương tự như lớp vảy lớn trên mình rắn.

Bạn đang xem: Snakehead fish là cá gì

Các lóc cảnh thuộc họ Channidae. Các loài cá này phân bố tự nhiên từ Đông-Nam Iran và Đông Afghanistan về phía Đông đến Trung Quốc, về phía Bắc đến Siberia và về phá Nam đến đảo Java, và từ sông Nile Trắng về phía Tây đến các nhánh sông Senegal và Chad và về phía Nam đến các nhánh sông Congo ở châu Phi.Có hai chi (Channa, Parachanna) bao gồm 34 loài (31 Channa và 3 Parachanna), dẫu sự phân hóa còn lớn hơn nhiều và có hàng loạt loài chưa được mô tả, nhất là ở Ấn Độ.Khả năng tự hô hấpMột đặc điểm bất thường là cá lóc chịu được mức oxy thấp. Chúng chủ yếu costheer chịu được như vậy vì các khoang trên phế quả ghép đôi của chúng được lót bằng biểu mô hô hấp (da được biến đổi để hấp thụ oxy trong khí quyển) cho phép chúng sử dung oxy trong khí quyển ở độ tuổi bán trưởng thành và trưởng thành.Trên thực tế, cá lóc là loài cá bắt buộc thở bằng không khí bằng không chúng sẽ chết đuối. Nếu bạn thấy khái niệm cá chết đuối là kỳ lạ, thì nên nhớ rằng cá lóc không phải là loài thở không khí bắt buộc duy nhất. Nhiều loài cá có đặc điểm sinh học tương tự, chẳng hạn như cá trê biết đi.Có một quan niệm sai lầm phổ biến rằng cá thở bằng không khí sống trong môi trường nước tù đọng. Trong khi một số loài cá lóc có thể chịu được nhiều điền kiện nước – và các nghiên cứu đã chỉ ra rằng cá Lóc Lùn, cá Lóc Đốm, cá Lóc Chevron có thể tồn tại ít nhất 72 giờ ở mức độ p
H từ 4.3 – 9.4; nhiều cá thể kém đi khi điều kiện nước được cho phép xấu đi hoặc trải qua thay đổi nhanh chóng, như thay nước nhiều.Nhiều cá lóc đến từ môi trường sống nơi nước mềm (đến 8 GH) và hơi chua đến trung tính (p
H 5 – 7), và các giá trị này thể hiện hướng dẫn phù hợp để duy trì thành công.Nuôi cá lóc không cần chú ý về việc trang trí bể. Chúng chỉ có xu hướng chỉ di chuyển khi nổi lên mặt nước. Chúng dành nhiều thời gian để bay lược ở giữa nước haowjc nghỉ ngơi dưới đáy trong chôc ẩn nấp như những kẻ săn mồi phục kích. Do đó cần cung cấp các không gian ẩn náu rộng rãi dưới dạng lũa và thảm thực vật ngập nước. Có thể dùng các thực vật nổi tạo ra lớp phủ bề mặt.Cá lóc cũng có khả năng tăng tốc mạnh mẽ và có khả năng hất tung mọi thứ xung quanh trong bể hoặc khuấy động chất nền. Vì lý do này, sỏi, không phải cát mịn, nên là chất nền được lựa chọn trong bất kỳ bể nuôi cá lóc nào. Nếu không, sự khuấy liên tục của các hạt mịn hơn sẽ làm tắc cá bộ lọc. Cá lóc có xu hướng chết đuối khi không tiếp cận bề mặt, hãy chừa đủ không khí khi đổ đầy bể.Cá Lóc cũng là loài nổi tiếng phàm ăn và người ta thường nghĩ rằng trong hồ nuôi chúng chỉ chấp nhận ăn mồi sống. Tuy nhiên, nhiều tay chơi thấy cá của mình có thể được luyện để quen với đồ ăn dạng viên dành cho cá lóc cảnh.

Cá nuôi bể cộng độngVới bản năng săn mồi cao độ, bạn có thể tin rằng cá lóc không phù hợp với hồ cộng động, nhưng nếu lưu ý vài điều thì một só có thể trở thành cá cộng đồng phù hợp
Trước tiên cân nhắc đến kích thước và một số loài cỡ nhỏ cư xử hài hoài để trở thành cá cộng đồng. Một số lưu ý khác là kích thước của cá chung hồ. Hiển nhiên, việc nuôi một bầy Neon tetra với cá lóc là quá rủi ro, vì vậy chúng luôn được nuôi chung với cá cùng kích cỡ để không không bị coi là thức ăn.Với nhiều loài cá lóc cỡ vừa độ 30-40cm/12-16”, hãy chọn cấ chung hồ bơi tương đối nhanh và mạnh khỏe. Do đó, cá loài họ cá chép cỡ vừa và lớn là lý tưởng. Dẫu sở hữu bản năng săn mồi, cá lóc là mồi cho cá Cichlid cỡ lớn, hung dữ.Cá lóc cũng thể hiện sự thay đổi đáng kể về màu sặc hoa văn khi trưởng thành. Nhiều cá non tương đối hấp dẫn hơn cả cá trưởng thành, thường có sọc từ vàng tươi đến cam – đỏ chạy dọc thân. Hoa văn này nhanh chóng biến mất khi cá lớn lên và nhiều loài trông sẫm màu, nhợt nhạt hơn. Đôi khi điều này khiến người chơi mât hứng thú nơi cá khi chúng lớn, vì vậy những người lần đầu mua cá lóc thật non phải được lưu ý rằng chúng sẽ ra sao sau này.

Một số loại cá lóc

Cá lóc hổ mang vàng – Golden cobra snakehead (Channa Aurantimaculata)Tương tự như cá lóc đốm cam (Orange-stotted snakehead), cá lóc hổ mang vàng lớn khoảng 40cm. Đây là loài cá tương đối hung dữ, tốt nhất nên nuôi riêng từng con.Bắt nguồn từ vùng Bắc Assam ở Ấn Độ, loài này tốt nhất được nuôi trong nước mát khoảng 20-26o
C. Điềi kiện nước lý tưởng: 6-7 p
H và 10 GH.

Cá lóc bông – Red snakehead (Channa micropeltes)Còn gọi là cá lóc khổng lồ (Giant snakehead). Khả năng lớn đến 1 mét hay còn có thể hơn nữa. thậm chí trong điều kiện nuôi nhốt, nó là loài cá lóc lớn nhất. Do đó cần hồ nuôi cực lớn để thả một con cá lóc bông trưởng thành.Cá lóc bông cũng thuộc số những loài cá lóc hung dữ nhất và sẽ tấn công nhiều cá chung hồ, kể cả đồng loại của chúng, thậm chí dù bọn nó lớn hơn hay dẫu cá lóc chẳng đói khát gì. Chúng sở hữu hàm răng lớn nhất trng làng cá lóc và sẽ dùng nó để cắn người.Mặc dù cá non có màu sắc hoa văn hấp dẫn với một sọc cam tươi dọc thân, sọc này nhanh chóng nhạt đi theo thời gian và cá trưởng thành có màu lam nhạt nhòa.Cá lóc bông không đòi hỏi điều kiện nước cầu kỳ và có thể duy trì ở nhiệt độ 26-28o
C, p
H và độ cứng tùy chỉnh miễn là tránh quá mức. Đây là loài chỉ dành cho những người nuôi cá có kinh nghiệm.

Cá lóc lùn – Dwarf snakehead (Channa gachua)Một trong những loài cá lóc có phạm vi rộng nhất, thường được thừa nhận rằng các thành viên được xác định là loài phức hợp. Một số nhà ngư học đã thừa nhận sự đa dạng này bằng cách coi các quần thể Đông Nam Á là một loài riêng biệt.Cá lóc lùn, đặc biệt là những con từ miền Bắc Ấn Độ, nên được duy trì trong nước mát hơn 18-25o
C, p
H 6-7.5, GH 6—8 là lý tưởng. Chỉ đạt kích thước đến 20cm, cá lóc lùn tương đối ngoan ngoãn và có thể nuôi chung trong bể cộng đồng với các loài cá khác có kích thước tương tự.Cá lóc hoàng đế - Emperor snakehead (Channa marulioides)Hay còn gọi là cá lóc vảy rồng dài đến 65cm, chỉ phù hợp để nuôi riêng, hay tốt nhất với cá chung hồ to lớn khác – dẫu vẫn cần hồ thật lớn!Cá này tốt nhất nên được nuôi trong điều kiện 24-28o
C, p
H 6-7 và GH 10.

Cá lóc cầu vồng – Rainbow snakehead (Channa bleheri)Đây là một thành viêng tương đối nhỏ, hiền lành thuộc nhóm cá lóc nhỏ. Cá lóc cầu vồng thuộc số những loài cá lóc sặc sỡ nhất và dài khoảng 20cm, phù hợp với hồ cộng đồng như cá Lùn.Cá lóc Banka – Banka snakehead (Channa bankanensis)Đây có lẽ là loài cá lóc kén chọn nhất về mặt điều kiện nước.Cá lóc Banka xuất cứ từ địa bàn nước đen vốn cực kỳ acid (p
H đến 2.8) và dẫu không nhất thiết phải nuôi cá ở nồng độ acid cao đến vậy, độ p
H nên giữ thấp (dưới 6) bởi nếu quá cao thì cá dễ đổ bệnh.Loài này cũng phù hợp hơn với tannin/humic acid, vì vậy đặt đất mùn (peat) trong bộ lọc sẽ tốt.Mặc dù chỉ lớn đến 23cm, cá lóc Banka rất hung dữ và tốt nhát nên nuôi trong hồ riêng.Cá lóc dày – Splendid snakehead (Channa lucius)Có thể dài đến 40cm, cá lóc dày là một trong những loài lớn nhất và chế độ chăm soc phải tương ứng. Loài này tương đối hung dữ và chỉ nên nuôi chung với cá to lớn, mạnh khỏe – nếu muốn. Điều kiện nước lý tưởng là 24-28o
C, p
H 5-6.5 và GH 8.Cá lóc khoen – Ocellated snakehead (Channa pleurophthalma)Một trong những loài cá hấp dẫn Đông Nam Á, cá lóc khoen có hình dáng khác biệt so với các loài cá lóc khác ở chỗ thân hình hẹp hơn. Những loài khác có thân gần như hình ống.Ngoài tự nhiên, cá lóc khoan thường xuất hiên ở địa bàn nước nâu hơi acid hơn bình thường (p
H 5-5.6), nhưng loài này dễ làm quen với tầm p
H 6-7 trong hồ nuôi loài này nên được nuôi ở 24-28o
C và nước không quá cứng (8 GH).Cá lóc khoen tương đối hiền lành vốn có thể nuôi chung với cá lớn, mạnh khỏe trong hồ tương đối rộng bởi chúng lớn đến 45cm.Cá lóc đốm – Spotted snakehead (Channa punctata)Loài bản địa Ấn Độ, cá lóc đốm là loài phổ biến trong một địa bàn rộng lớn, từ ôn đới đến nhiệt đới. Bởi vì tầm phân bố như vậy, loài này có thể chịu được một phạm vi nhiệt đọ rất rộng từ 9-40o
C.Các thí nghiệm cũng đã chỉ ra rằng nó có thể chịu được một phạm vi p
H lớn, vì vậy điều kiện nước không quá quan trọng miễn là tránh quá mức. Là một loài tương đối nhỏ, khoảng 30cm, tuy nhiên, cá lóc đốm cũng thuộc loại hung dữ chỉ có những cá lóc đốm cùng loại mới có thể ở chung.

Xem thêm: Hướng Dẫn Cách Đổi Pass Wifi Zte Mf65+, Hướng Dẫn Đổi Tên Và Mật Khẩu Bộ Phát Zte Mf65+

Cá lóc đen – Chevron snakehead (Channa striata)Cá lóc đen là một trong những loài cá nước ngọt mạnh khỏe nhất, điều kiện nước không quá quan trọng, vẫn cần tránh quá mức. Đây là loài cá lớn vốn có thể đạt tới 90cm và giống như cá lóc bông, không phù hợp nuôi chung với bất kỳ loại cá nào.Cá lóc Phi – African snakehead (Parachanna obscura)Dẫu cực giống với cá lóc dày về hình dạng và màu sắc, cá lóc Phi có thể được phân biệt bằng cái mũi hình ống nổi bật và dài. Lớn đến 45cm, thông số nước cho loài này nên tương tự với cá lóc dày.

Ngoài thức ăn sóng thì loại thực phầm nào cá lóc cảnh chịu ăn?Cá lóc có thể cai mồi soosgn và chấp nhận ăn cá, sò, tép dành cho người và thức ăn viên loại giàu đạm.Những thức ăn tươi sống không có nguồn gốc thủy sản khác vẫn có thể yên tâm cho ăn bao gầm trùng đất, mealworm và dế. Cá lóc non sẽ chịu ăn trùng đỏ và tép krill.

Lai tạo chúng như thế nào?Cá lóc sinh sản khá dễ, nếu điều kiện nước đúng đắn. Việc phân biệt giới tính ở hầu hết các loài là không dễ với người mới nuôi, dẫu thực tế là cá cái trông mập mạp hơn.Với việc phân biệt giưới tính khó khăn, đôi khi cần thả nhiều con vào chung hồ để chúng bắt cặp một cách tự nhiên (hãy đảm bảo hồ đủ hớn để nuôi nhiều con một cách thoải mái. Và cung cấp nhiều không gian trú ẩn để giảm bớt hung hăng).Một số loài chẳng cần phải kích thích gì nhiều, trong khi một số loài khác cần một giai đoạn mát mẻ hơn, tiếp theo tăng nhiệt độ để mô phỏng sự đổi mùa. Một só ấp trứng bằng miệng trong khi số khác dùng tổ bọt.Cả cá lóc đực và cái đều bảo vệ bầy cá bột một khi trứng nở.

Vây lưng có 40 - 46 vây; vây hậu môn có 28 - 30 tia vây, vảy đường bên 41 - 55 cái. Ðầu cá quả O.maculatus có đường vân giống như chữ "nhất" và 2 chữ bát còn đầu cá O.arbus tương đối nhọn và dài giống như đầu rắn.

*

Cá lóc sống phổ biến ở đồng ruộng, kênh rạch, ao hồ, đầm, sông, thích nghi được cả với môi trường nước đục, tù, nươc lợ, cóthể chịu đựng được ở nhiệt độ trên 300C. Cá thích ở nơi có rong đuôi chó, cỏ, đám bèo, vì ở nơi đây cá dể ẩn mình rình mồi. Vào mùa hè cá thường hoạt động và bắt mồi ở tầng nước mặt. Mùa đông cá hoạt động ở tầng nước sâu hơn.

Cá lóc là loài cá dữ có kích thước tròn dài. Lược mang dạng hình núm. Thực quản ngắn, vách dầy, bên trong thực quản có nhiều nếp nhăn. Dạ dày to hình chử Y. Cá là loài cá dữ, ăn động vật điển hình. Quan sát ống tiêu hóa của cá cho thấy cá chiếm 63.01%, tép 35.94 %, ếch nhái 1.03 % và 0.02 % là bọ gạo, côn trùng và mùn bã hữu cơ.


Tập tính

1.Tập tính sinh họcThích sống ở vùng nước đục có nhiều rong cỏ, thường nằm phục ở dưới đáy vùng nước nông có nhiều cỏ. Tính thích nghi với môi trường xung quanh rất mạnh, nhờ có cơ quan hô hấp phụ nên nó có thể hít thở được O2 trong không khí. ở vùng nước hàm lượng O2 thấp cũng vẫn sống được, có khi không cần nước chỉ cần da và mang cá có độ ẩm nhất định vẫn có thể sống được thời gian khá lâu.2.Tính ănCá quả thuộc loại cá dữ. Thức ăn là chân chèo và râu ngành; thân dài 3 - 8cm ăn côn trùng, cá con và tôm con; thân dài trên 8cm ăn cá con. Khi trọng lượng nặng 0,5 kg có thể ăn 100 - g cá. Trong điều kiện nuôi nó cũng ăn thức ăn chế biến. Mùa đông không bắt mồi.3.Sinh trưởng Tương đối nhanh. Con lớn nhất đến 5 kg, nhìn chung cá 1 tuổi thân dài 19 - 39cm nặng 95 - 760g; Cá 2 tuổi thân dài 38,5-40cm, nặng 625 - 1.395g; cá 3 tuổi thân dài 45-59cm, nặng 1.467 - 2.031g (con đực và cái chênh lệch lớn); khi nhiệt độ trên 20o
C sinh trưởng nhanh, dưới 15o
C sinh trưởng chậm.


Sinh sản

Cá lóc 1 - 2 tuổi bắt đầu đẻ trứng, mùa vụ sinh sản từ tháng 4 - 8, tập trung vào tháng 4 - 5. Cá thường đẻ vào sáng sớm sau những trận mưa rào một hai ngày nơi yên tỉnh có nhiềuthực vật thủy sinh. Ở nhiệt độ 20 - 350C sau 3 ngày trứng nở thành cá bột, khoảng 3 ngày sau cá tiêu hết noãn hoàng và bất đầu ăn được thức ăn tự nhiên bên ngoài.

Sau khi nở, luân trùng Brachionus plicatilis được xem là thức ăn đầu tiên tốt nhất của cá bột. Ngoài ra chó thể cho ăn nấm men, lòng đỏ trứng hay thức ăn tổng hợp dạng bột.

Giai đoạn kế tiếp cho ăn trứng nước (Moina), Daphnia hay trùng chỉ, ấu trùng muổi đỏ.

Giai đoạn cá giống, sâu gạo và dòi là thức ăn ưa thích của cá. Một số thí nghiệm trên cá bột cho thấy cá có khả năng sử dụng thức ăn trứng nước kết hợp với đạm đơn bào. Thức ăn Moina vẫn là thức ăn tốt nhất đối với cá bột trong 3 tuần lễ đầu. Rhizopus arrhizus hay đạm đơn bào (125μm) được sản xuất từ kỹ thuật lên men sử dụng dầu cọ làm nguồn carbon chính.

Giai đoạn cá lớn thường cho ăn cá tạp, phụ phế phẩm từ các nhà máy chế biến đầu tép, tôm, ếch, cá hay thức ăn chế biến và thức ăn viên. Cá lớn nhanh vào mùa xuân - hè.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

x

Welcome Back!

Login to your account below

Retrieve your password

Please enter your username or email address to reset your password.